Kusamakura – Bức tranh bằng ngôn từ

Tôi chưa từng đọc một tác phẩm nào có kết cấu đặc biệt như thế. Đây không phải là tiểu thuyết, không phải là một câu chuyện thú vị để kể, không có tình yêu lãng mạn, nóng bỏng, hay kích thích. Phải đọc đến dòng cuối cùng, hồi tưởng lại, mới nhận ra đó là cả một bức tranh tuyệt mỹ. Kết cấu tác phẩm là cả một quá trình vẽ nên một bức tranh, từ những phác họa đầu tiên, cho đến nét chấm bút cuối cùng. Bởi thế, tác phẩm này không phải để đọc một lần, đọc ngấu nghiến cho thỏa nỗi tò mò, mà là để đọc hết một lần, rồi đọc lại nhiều lần nữa, nhâm nhi từng con chữ rất cầu kỳ mà diễm lệ, thả mình vào khung cảnh thiên nhiên rất đỗi trong trẻo ấy.

Nhưng một bức tranh, nếu chỉ trong trẻo thôi thì chưa đủ. Đó chỉ là một bức tranh trong sáng, nhưng không có tính nghệ thuật chút nào. Như chàng họa sĩ đã nhận xét bức tranh Bồ Tát trong chùa: “Ðúng là có một bức tranh vẽ Bồ Tát treo ở góc phòng. Một bức tranh chẳng có tính nghệ thuật chút nào. Nó chỉ không thô thiển vì không có tục ý. Người vẽ tranh chẳng thể hiện chút nỗ lực nào để tạo ra tác phẩm. Ðây quả là một bức vẽ trong sáng.” Bởi vậy, chủ thể chính của bức tranh này – cũng chính là đặc sắc nghệ thuật của bức tranh – chính là nàng Nami.

Phác họa đầu tiên về nàng Nami là hiện lên qua lời kể của bà lão hàng nước, cho người đọc ấn tượng về một nàng thiếu phụ đau khổ với số phận bi kịch. Hình ảnh nàng được khắc họa hết sức cụ thể, rõ nét trong trí tưởng tượng của chàng họa sĩ: từ chiếc áo cưới nàng mặc, búi tóc cô dâu, cho đến dáng ngồi trên lưng ngựa, hay cánh hoa anh đào vương trên mái tóc nào. Duy chỉ gương mặt nàng là chàng họa sĩ không tài nào tưởng tượng ra được.

Đến đây tôi bỗng dưng liên tưởng đến một khái niệm trong hội họa phương Đông cổ, đó là thuật “điểm nhãn”. Người xưa khi vẽ tranh chân dung, hay tranh sinh vật, thường vẽ đôi mắt cuối cùng. Họ quan niệm rằng, đôi mắt là cái thần của tranh, hoàn thành đôi mắt một cách tuyệt hảo cũng là lúc người và vật trong tranh trở nên sống động, thoát ly khỏi cái khung tranh nhỏ hẹp. Tương tự như vậy, khuôn mặt của nàng Nami – hay chính xác hơn là cảm xúc trên khuôn mặt nàng – sẽ là điểm nhấn nghệ thuật nhất của cả bức tranh, đây cũng là điều mà chàng họa sĩ vẫn đau đáu mãi mà không tài nào vẽ ra được.

Nhưng khi nàng Nami xuất hiện, thú thực rằng, sự vô tư, hồn nhiên có phần lập dị, phóng túng, bất cần của nàng khiến tôi có phần choáng váng. Nàng xuất hiện với những biểu hiện của một cá tính vô cùng nổi loạn, không theo lẽ thường, hoàn toàn trái ngược với những phác họa ban đầu. Và cũng đúng rằng, biểu hiện nổi loạn và lập dị của nàng kéo theo những lời đàm tiếu, chỉ trích của dân làng. Nàng chẳng buồn để tâm đến những lời nói đó.

Nhưng dần dần, dưới góc nhìn đầy tinh tế của chàng họa sĩ, lớp vỏ ngoài gai góc của nàng Nami dần được bóc tách. Có thể nói đây là cả một quá trình vô cùng thú vị, như thể việc tẩy đi từng lớp phấn son bên ngoài, để tìm kiếm thứ gì chân thật nhất, thuần khiết nhất còn lại cuối cùng. Hình ảnh nàng Nami luôn hiện lên một cách mờ ảo, như mây như khói, nhưng mỗi lần xuất hiện, chúng ta lại được biết thêm một chút gì ẩn giấu trong tâm hồn nàng.

Chàng họa sĩ cực kỳ tinh tế khi đã nhận xét nàng Nami tựa như diễn viên kabuki, “Những diễn viên bình thường thì khi lên sân khấu mới thoát ly đời thường để hóa thân vào vai diễn. Còn cô ấy thì diễn xuất ngay trong cuộc sống đời thường. Thậm chí bản thân cô cũng không hề biết là mình đang diễn nữa.” Đúng là như thế. Nàng tỏ ra là chẳng quan tâm đến những lời đàm tiếu của dân làng về bi kịch đời mình, và đúng là nàng chẳng quan tâm, nhưng nàng vẫn luôn giấu tất cả những nỗi niềm, những suy tư, hay những đau đớn thầm kín nhất của một người thiếu phụ đau khổ vào tận sâu trong tâm hồn, khóa chặt ở đó. Nàng vô thức làm điều ấy thôi, mà có lẽ chính nàng cũng chẳng biết. Nàng sống một cuộc sống thoát tục. Nhưng có đôi khi lơ đễnh, nỗi niềm u uẩn ấy len lỏi thoát ra ngoài, lộ ra một xíu trong vài lần nàng nói về cái chết. Nàng dặn chàng họa sĩ hãy vẽ chân dung mình chết đuối sao cho thật thanh thản. Khi ta nói về cái chết, cũng là khi một phần nào đó trong ta thực sự muốn chết, và thực sự cân nhắc đến cái chết. Khi nói về cái chết thanh thản, phải chăng đó cũng là điều mà nàng muốn, bởi lẽ, cho dù nàng đang sống một cuộc sống thoát tục, thì tận sâu trong trái tim nàng vĩnh viễn không bao giờ có thể hoàn toàn thoát tục. Đó cũng là lý do vì sao chàng họa sĩ cứ loay hoay mãi với khuôn mặt nàng: nếu thể hiện sự đau đớn thể xác, thì sẽ làm hỏng tinh thần bức tranh, nhưng nếu là một gương mặt quá đỗi bình yên, thì lại không phản ánh được tình cảm con người. Chàng họa sĩ cứ canh cánh mãi, làm sao có thể vẽ được khuôn mặt với sắc thái phức tạp như vậy, sánh vai được với bức tranh Nàng Ophelia của Millais?

Cho đến tận chương cuối cùng, màn đêm bí ẩn về bi kịch cuộc đời nàng Nami vẫn bao phủ quanh nàng, như sắc xanh lục thẫm của cây cỏ ven sông và màu nước đen huyền sâu thẳm trong bức tranh Nàng Ophelia vậy. Nhưng điều đó không còn quan trọng nữa. Bởi đây chính là khoảnh khắc bùng nổ nhất, khoảnh khắc mà người họa sĩ “điểm nhãn” cho bức tranh. Tôi nghĩ đó là khoảnh khắc mang đầy tính điện ảnh: một buổi chiều trên sân ga, khung cảnh tĩnh, đoàn tàu từ từ chuyển bánh, đưa những người đàn ông trên tàu ra chiến trường đẫm máu – báo trước một chuyến đi không trở về, sự vật động, và đúng lúc ấy, hai ánh mắt từ hai phương hướng hoàn toàn ngược nhau đó bỗng chạm vào nhau.

“Tàu vẫn chạy rầm rập trên đường sắt. Gương mặt du sĩ dần khuất dạng. Nami đứng ngơ ngẩn nhìn theo. Trong khoảnh khắc ngơ ngẩn ấy, bất ngờ trên gương mặt cô thoáng hiện vẻ tiếc nuối pha lẫn nỗi buồn. Đó chính là khoảnh khắc ‘aware’ mà tôi chưa từng thấy cô thể hiện trên nét mặt.”

Thật kỳ lạ, dù giọng văn vẫn rủ rỉ điềm nhiên như thế, nhưng đến đây, mọi cảm xúc được đẩy lên cao. Đọc đến đây, tôi bỗng cảm thấy tim mình như hẫng một giây, cũng như chàng họa sĩ đã phải reo lên “Đúng rồi! Chính là cái mà ta đang tìm kiếm cho bức tranh kia!” Chỉ trong một sát na thôi, những ẩn ức sâu kín nhất trong lòng người thiếu phụ đã phá tan mọi nỗ lực kìm nén trước kia, ùa lên như nước xiết. Cảm xúc trên khuôn mặt nàng trong sát na ấy đã có đầy đủ những yếu tố mà chàng họa sĩ tìm kiếm. Đó là khoảnh khắc của nỗi bi ai ngay trước khi nó vỡ tan, chưa đến cao trào, mà chỉ mới chớm một chút xíu.

Nỗi lòng – Natsume Soseki

Như lệ thường, đọc xong viết vài dòng.

———-

Mình không muốn khoa trương ý nghĩa của câu chuyện lên mức độ thời đại hay những giá trị gì đao to búa lớn tương tự. Đó là việc của các bài điểm sách khác. Ở đây, đơn giản chỉ là vài dòng bâng quơ.

Thật ra một điều đáng sợ là mình lại tìm thấy được quá nhiều sự đồng cảm trong cuốn sách được viết từ cách đây hơn một thế kỷ này. Cứ như thể một định mệnh nào đó khiến mình đọc cuốn sách này vào đúng thời điểm này, trong tâm trạng này, và ở đúng địa phương này vậy. Nghe có vẻ ngạo mạn khi nói rằng mình có thể hiểu phần nào cảm giác của Tiên Sinh, nhưng đúng là như thế.

Cuộc đời của Tiên Sinh trong mắt người đời tưởng chừng như quá đỗi phẳng lặng êm ả, nhưng nào ai hiểu được những đợt sóng ngầm gầm xiết bên dưới ấy. Trước nhất, đó là bởi Tiên Sinh là người quá nhạy cảm, và quá lý tưởng.

Họ nói, cuốn sách viết về nỗi cô đơn. Đối với mình, trước cả sự cô đơn, đó là sự trống rỗng và đổ vỡ khi lý tưởng đối diện với thực tại. Nấc thang đầu tiên là sự thất vọng đến tột bậc với bản tính con người. Nhưng nấc thang thứ hai mới là nhát dao chí mạng. Đó là khi ta nhận ra, à thì ra ta cũng chẳng khác gì những kẻ tầm thường mà ta khinh khi, thì ra ta cũng chỉ là con người với thân xác máu thịt, mà hễ động đến tư lợi cá nhân là có thể vị kỷ đến vậy, dù rằng ta cố gắng sửa chữa nó với tất cả lòng thiện chí. Có lẽ con người ai cũng phải nếm trải những điều đó, nhưng với một kẻ quá đỗi lý tưởng và đòi hỏi ở bản thân quá cao, thì không giây phút nào ta có thể thanh thản được với tội lỗi của mình. Sự giày vò đó dần dần khiến ta lạc lõng khỏi thế gian. Cái vết bẩn ấy không thể gột rửa được. Cái chết không phải thứ gì đẹp đẽ như người ta vẫn nghĩ, như vệt máu bắn lên tường của K, mà là một sự chuộc tội, một sự “tuẫn đạo” mong tìm được sự thanh thản tuyệt đối.

.

“Cả đời tôi chưa từng làm chuyện xấu, tại sao lại thế này?”

Trong khoảnh khắc, đúng câu này hiện lên trong đầu tôi. Cả đời tôi chưa từng làm gì xấu, tại sao tôi luôn phải gánh chịu hàng tấn cảm xúc nặng nề như thế này? Mà tất cả những gánh nặng đó, đều đến từ người khác? Hơn ai hết, thứ tôi mong muốn nhất chỉ là sự thanh thản tuyệt đối trong lòng. Hơn ai hết, tôi cũng chỉ muốn thấy chính mình, bản ngã của mình, niềm tin của mình. Thế gian này 7 tỉ người, vì sao lại cô độc đến vậy?

Phải đến bao giờ, tôi mới có thể nhìn thấy biển rộng trời cao?

清明时节,无论多么忙着,解语花都会请个假,独自一人唱一折戏,这已成通例了。这个通例是从二爷去世的那一年开始的,当初解语花身为徒弟根本只想唱两三段想念师傅而已。新月酒店的高层人物后来得知,每年这一天都把新月酒店中的舞台和包廂送给解语花,说是为了敬二爷。解语花不好拒绝,只好接任。这件事在行里变成传奇,每年清明很多人包括北京城的大人物都愿意支付一笔大钱来欣赏解大当家唱的一折戏,可是千金难求。

新月饭店门口站着三个人。

“不行,我不喜欢这个地方。” 胖子郁闷地说,”你不记得吗,上次来到这里没有什么好事,被老婆子骗一把,负了一笔债算了,还被追杀多么惨,不行不行,我对这个酒店有了心理阴影了。”

Vài dòng về Griffith

Không cần phải nói nhiều về siêu phẩm seinen này rồi, tôi quá làm biếng viết lại những gì mà thiên hạ đã viết, biên bài này ra chỉ để ghi lại vài nhận xét cá nhân mà tôi nghĩ là chưa ai viết về nhân vật này.

Khỏi phải nói, Griffith là một nhân vật phức tạp, với nhiều quan điểm cho rằng anh ta là nhân vật phản diện đặc sắc, dẫu rằng nếu liệt kê danh sách những “tội ác tày trời” của anh ta ra thì nghe hơi chút “kỳ cục”: phản bội lại đội quân The Hawk của chính mình, “xâm hại tình dục” Casca và, “ăn cơm trước kẻng” với công chúa Charlotte (?). Vậy nên tôi viết bài này, để chỉ ra rõ điểm cốt yếu khiến Griffith trở thành nhân vật phản diện vô cùng đặc sắc.

Nói tục một chút, cảm nhận đầu tiên của tôi khi vừa mới đọc Berserk, đó là: “Bỏ mẹ, sao nghe mùi như Ban tuyên giáo trung ương của anh Lưu bán dép thế này???” =))))))

Với xuất thân (có lẽ là) bần hàn, không phải giới quý tộc, con đường ban đầu của Griffith cũng từa tựa như Hán vương Lưu Bang năm xưa. Nhưng khác là, anh ta có vẻ ngoài của một thiên thần. Mỗi lần anh ta xuất hiện là cả trang truyện đang tăm tối cũng phải sáng bừng lên. Gương mặt ngây thơ của anh ta, nụ cười rạng rỡ của anh ta, mọi cử chỉ ngôn hành đáng yêu của anh ta, đều toát lên một thứ ánh sáng quá rực rỡ, nhưng lại rực rỡ đến kỳ cục và bất hợp lý. Tất cả mọi người đều đi theo anh ta, chiến đấu cho giấc mơ của anh ta, hoàn toàn tin tưởng anh ta, và anh ta cũng hiện lên như một người thủ lĩnh tuyệt vời, một vị “minh chúa” đáng để thờ phụng giữa thời buổi loạn lạc. Điều này làm tôi bất giác nhớ đến sự nghiệp của Lưu Bị (aka anh Lưu bán dép) khi ông ta buổi đầu dấy binh.

Nhận xét một cách ngắn gọn nhất về Griffith thời kỳ này, tôi muốn dùng hai chữ “gian hùng”. Anh ta có đầy đủ những phẩm chất thiết yếu của một vị “minh quân”: tham vọng, tầm nhìn xa, sự khôn ngoan, biết cách dùng người, và quan trọng nhất là sự quyến rũ của một vị lãnh đạo để lôi kéo người khác về phía mình. Sự quyến rũ đó khiến ngay cả chính người đọc cũng bị cuốn theo, để rồi thực sự tin tưởng rằng anh ta đã từng là một chàng thanh niên ngạo nghễ và tươi sáng như vậy.

Không, tôi hoàn toàn không nghĩ anh ta bị nhuốm bẩn bởi tham vọng quyền lực, mà ngay từ đầu, chính bản chất con người anh ta vốn đã là như vậy.

Không biết là vô tình hay cố ý, nhưng có thể nói Miura đã cực kỳ tinh tế khi xây đắp nhân vật Griffith trong thời kỳ đầu này. Bởi vì cái vỏ bọc ban đầu của anh ta quá đẹp đẽ, mà chỉ khi nào thật sự tinh ý mới có thể nhận thấy được một chút bóng tối lộ ra bên dưới ánh sáng rạng rỡ choán ngợp cả trang truyện ấy.

Tôi đã bật cười khi đọc được dòng “He did not discriminate between rich and poor, young and old, men and women.” trong một bài review nọ về Griffith, bởi trong khoảnh khắc ấy tôi lập tức nhớ đến ngay chi tiết anh ta sai Casca cởi áo sưởi ấm cho Guts, bởi theo anh ta, đó là “việc của đàn bà”. Nhưng không, tôi không hoàn toàn phủ nhận nhận định này. Bởi tôi cũng cho rằng, Griffith là người không quá bận lòng đến những định kiến xã hội. Đó là vì anh ta – trong vô thức – luôn tự coi mình là sinh vật đứng bên ngoài cả thế giới này, xã hội này. Vì lẽ đó, dù anh ta có niềm vui, nỗi buồn, sự đau khổ, và cả niềm thương cảm cho những cái xác người vô danh đã ngã xuống trên con đường dẫn đến ước mơ của anh ta, thì tất cả những cảm xúc đó cũng không cuốn anh ta đi như những người phàm khác. The Hawk thật sự quan trọng với anh ta, nhưng không phải là những thành viên của nó, mà chỉ là “đội quân The Hawk” mà thôi. Thậm chí, ngay đến xác thịt của chính anh ta, anh ta cũng có thể đem ra làm công cụ đánh đổi trên con đường vươn tới ước mơ của mình. Định kiến xã hội về “đàn ông” chẳng là cái thá gì với anh ta, ngủ với một gã quý tộc đáng ghê tởm để đạt được mục đích của mình, anh ta hoàn toàn làm được điều đó. Sự lạnh lùng khủng khiếp đó là thứ mà không phải kẻ tầm thường nào cũng có được.

Nhưng đỉnh điểm nhất, điều khiến tôi phải thán phục tác giả nhất – vì đã gây dựng nên một nhân vật phản diện “gian hùng” đến bực này – đó là cái cách mà anh ta đã thuyết phục hoàn toàn được Casca (và chính người đọc) khi Casca phát hiện ra vụ bê bối của mình (ngủ với gã quý tộc). Khả năng thao túng cảm xúc người khác đến tột bậc của anh ta có lẽ đã được thể hiện rõ nhất trong chi tiết này.

Một con người lý trí đến bực này, tôi chẳng lấy làm ngạc nhiên khi anh ta sẵn sàng hiến tế toàn bộ thành viên trong The Hawk để đổi lấy một cơ hội thứ hai cho mình. Anh ta không hề thay đổi vì ngày Nhật Thực định mệnh đó, mà chẳng qua là, anh ta chỉ bị ép buộc phải lột đi lớp mặt nạ của mình mà thôi.

Nhưng tôi lại ngạc nhiên vì thứ cảm xúc của anh ta với Guts.

Một kẻ lý trí như anh ta lại hoàn toàn mất lý trí vì mọi thứ liên quan đến Guts. Tôi vẫn chưa hiểu điều gì khiến anh ta ám ảnh với Guts đến vậy, nhưng sự ám ảnh quái đản đó là thứ duy nhất khiến cuộc đời anh ta chệch đường ray. Thật kỳ cục khi chứng kiến một kẻ khôn ngoan như anh ta lại phạm phải thứ sai lầm nhảm nhí đến vậy, càng kỳ cục hơn, khi tôi nhìn thấy sự ghen tuông điên cuồng và căm hận tột cùng khi anh ta cưỡng hiếp và nguyền rủa Casca cùng đứa con trong bụng cô ngay trước mặt Guts. Có lẽ đó là giây phút duy nhất anh ta hoàn toàn mất lý trí thực sự.

Trớ trêu thay, sự kiện đó lại cho Guts một lý do riêng để sinh tồn, thay vì sống một cách vất vưởng và vô mục đích như xưa kia. Trớ trêu thay, điều đó lại khiến Guts trở thành một người bạn sánh ngang với anh ta, đúng như những gì anh ta quan niệm về “bạn bè”. Anh ta liệu có hài lòng hay chăng?

Cho đến diễn biến hiện nay, sau khi hồi sinh, Griffith càng trở nên “sáng” hơn, rực rỡ hơn, lạnh lùng hơn, lý trí hơn, và đẹp hơn, như một thiên thần vậy, đối lập hoàn toàn với hình ảnh của Guts. Sự tương phản gay gắt giữa hai nhân vật này đã lên đến đỉnh điểm. Ánh sáng càng mạnh, bóng tối sau lưng anh ta lại càng sâu. Để rồi không biết sau này tác giả sẽ giải quyết mâu thuẫn này như thế nào?

Gửi đứa trẻ của 10 năm trước

Tôi vẫn chẳng thay đổi. Vẫn như một con thú bị đè nén và xiềng xích, vùng vẫy trong cái lồng sắt gai. Vẫn như Sisyphus không ngừng cố gắng đẩy tảng đá của sự bất an, cô đơn và hoảng sợ lên đến đỉnh đồi vào mỗi buổi sáng, để rồi trơ mắt chứng kiến tảng đá ấy lăn xuống đè bẹp mình vào buổi chiều tà. Có lẽ chỉ khác một điều là, tôi thành thật hơn. Tôi thôi không cố gắng dối trá rằng tôi yêu bản thân mình, như em lúc ấy. Tôi thôi không lạc quan một cách giả tạo. Tôi thôi không gắng tỏ ra hài hước trong cảm giác tệ hại của kẻ thất bại. Có lẽ là vì tôi đã mệt.

Nhưng tôi vẫn tiếp tục hoang tưởng. Những mảnh vụn ảo mộng đẹp đẽ vẫn luôn xuất hiện trước mắt tôi, từng giây, từng phút, cứ mỗi khi tôi thả lỏng mình. Mười năm trước, tám năm trước, em đã viết rất nhiều những mẩu vụn nho nhỏ ấy, hàng ngàn câu chuyện không bao giờ được hoàn thành. Em đã đặt niềm tin rằng, mười năm đủ để thay đổi một con người. Xin lỗi. Tôi không làm được.

Có lẽ những hoang tưởng đó vẫn luôn là ánh sáng hy vọng của chúng ta.

Mười năm trước, rất nhiều lần em thốt ra từ “chết” một cách dễ dàng. Rất nhiều lần em vẽ ra những cái chết đẹp đẽ, cũng mê mẩn những cái chết đẹp đẽ. Cái chết của Hector trước bức tường thành Troy. Cái chết của Yoshitsune dưới hàng ngàn cánh hoa anh đào. Cái chết của Ngu Cơ giữa bốn bề Sở ca. Đáng lẽ ra ngay từ lúc đó, phải có ai đó nhìn thấy em, nắm tay em, vực em dậy, vá lại những mảnh linh hồn đã nứt toác, bởi vì từ thời điểm đó, bóng tối đã bủa vây em rồi.

Nhưng để tôi nói với em, rằng cái chết thực sự là như thế nào. Cái chết trần trụi, đau đớn, lạnh lẽo, và, chẳng có gì cả. Không có xấu xí, không có đẹp đẽ. Xấu hay đẹp chỉ là vấn đề của những người còn sống. Chỉ là như vậy thôi.

Để tôi nói với em, mơ ước của em tôi đã thực hiện rồi. Tôi đã đặt chân đến Tokyo, đã ngắm hai hàng cây rẻ quạt trong khuôn viên Đông Đại, đã nhìn xuống ngã tư Shibuya tấp nập, đã bước trên thảm cỏ ố vàng giữa mùa đông ở công viên Yoyogi. Thế nhưng cảm giác không như chúng ta đã tưởng. Tôi xin lỗi, vì lúc này, tất cả những gì tôi cảm thấy là trống rỗng.

Tôi xin lỗi. Tôi thực sự không còn gì để nói nữa.

.

Nếu suy nghĩ quá nhiều trước khi viết, kết cục sẽ chẳng viết được chữ nào. Nên tôi cứ thử gõ đại ra vài con chữ xem sao.

Tôi được giao viết một bài tản mạn cho tạp chí, kể về trải nghiệm và cảm xúc của mình. Điều đó đồng nghĩa với việc, chẳng có tư liệu tham khảo nào, chẳng có câu chuyện xa xôi nào để vay mượn. Chỉ có mình tôi. Thực ra điều này đối với tôi còn khó khăn hơn viết một ngàn bài tư liệu khác mà tôi đã từng viết. Tôi làm tốt công việc tìm kiếm tư liệu, sắp xếp tư liệu, và xây dựng kết cấu bài viết. Thứ duy nhất mắc kẹt đó là khi được yêu cầu viết về cảm xúc của mình. Nó là một thứ hỗn tạp mà tôi không bao giờ lý giải nổi, hoặc giả, tôi vẫn luôn trốn tránh, không muốn đối mặt với nó. Tôi đã kẹt suốt cả tuần nay, một điều khá hiếm hoi trong 2 năm viết lách cho tạp chí này (đã 2 năm rồi cơ đấy, mặc dù không phải là quá thường xuyên).

Tôi dở tệ trong quá nhiều việc, một trong số đó là thể hiện bản thân mình. Như đã từng nói, tôi bị ám ảnh sợ xã hội và tự-tôn-thấp (low self-esteem). Cơn ác mộng này đã dai dẳng suốt từ rất lâu, có lẽ đến từ những cú sốc thời kỳ tuổi dậy thì, đến nay cũng đã mười mấy năm rồi. Nó lâu đến mức biến thành một phần của tôi, như những người khác đều nói, “tính cách”. Tôi cố gắng phản đối điều đó, nhưng những gì tôi thể hiện ra ngoài hoàn toàn trái ngược với ý muốn của bản thân. Chẳng có gì để nói nữa. Cuối cùng tôi im lặng, mặc cho mọi thứ bên ngoài nhào nặn con người mình.

Khi viết ra những điều này, cảm giác thật sự rất đau khổ. Nỗi sợ hãi này, nó không chỉ đơn thuần là ngượng ngùng, tránh né những tình huống xã giao bên ngoài, mà nó ăn sâu vào tận linh hồn tôi, khiến tôi vĩnh viễn quay cuồng trong cảm giác bất an vô tận, ngay cả khi chỉ qua một chiếc màn hình vi tính, hay chỉ qua một trang giấy trong một chuyên mục giải trí trên tờ tạp chí. Tôi thấy mình trong hình hài bé nhỏ, rúm ró, với mười đầu ngón tay mòn vẹt, đẩy hết những người xung quanh ra khỏi mình, và từ chối khi có người lạ tiếp cận. Chẳng có bất cứ thay đổi nào trong vòng mười mấy năm qua. Tôi nhấn chìm mình trong sự cô đơn và khủng hoảng. Tôi không phải người hướng nội. Thật sự.