Thông báo: Nhà hoang!

Ai lỡ bước chân vô đây, XIN HÃY VUI LÒNG TRỞ RA =’P

 

Mình không đăng tải truyện gì ở đây nữa.

Đây là nơi mình viết nháp những thứ linh tinh, hoặc viết trên điện thoại những lúc không tiện bật laptop.

Drabble 1

Trời mưa tầm tã. Ở ngoài ngoại ô, trong một ngôi miếu hoang rách nát.

Lý Tứ nằm vật ra trên đống rơm ướt vừa vất vả trộm được về từ một nhà nông trong thôn làng cách đó không xa, người hắn be bét máu, bên mạng sườn là một vết thương sâu hoắm, trông rất đáng sợ. Hắn uể oải nói:

“Thiếu gia, tôi đây chính thức thành thương binh rồi, ngài phải tự lo liệu đi thôi.”

“Vậy ta phải làm gì?” 

Người thanh niên bên cạnh hết sức nghiêm túc nói. Y mặc áo vải thô, nhưng dáng vẻ vẫn toát lên đầy quý khí của con nhà sang quý.

“Hừm… Đầu tiên chúng ta phải tìm cách nhóm lửa đã… Nhưng phải tìm được ít củi khô, củi ướt không cháy được…” 

“Ta đi quanh đây tìm xem.”

Nói đoạn, Diệp Anh đứng dậy. Một lát sau, y đem về một ít cành cây rụng vẫn chưa bị mưa ngấm ướt, thuần thục đánh lửa, đốt một đống lửa trại nho nhỏ. Vì căm miếu hoang này cả bốn vách đều không kín, gió luồn qua, thốc vào trong, y phải khó khăn lắm mới chắn được gió để đống lửa không bị dập tắt.

Có lẽ là do mất quá nhiều máu, Lý Tứ mê man một lúc. Diệp Anh thấy vậy, lại gần, đỡ hắn ngồi dậy, nói:

“Ta giúp ngươi cầm máu.”

Họ Lý ậm ừ vài tiếng không rõ nghĩa.

Diệp Anh cẩn thận lấy chiếc khăn tay sạch của mình ra thấm bớt máu trên vết thương, sau đó mới rắc thuốc bột. Rồi y xé một mảnh vạt áo dài, băng lại, cố định vết thương.

Lúc này Lý Tứ mới lơ mơ tỉnh, hắn nhếch mép nói: 

“Thế mà tôi cứ tưởng thiếu gia cậu nhóm không nổi một đống lửa cơ đấy.”

Diệp Anh đáp:

“Những lúc bị phụ thân phạt, nhốt trong cấm địa 7 ngày 7 đêm, cũng phải tự nghĩ cách xoay sở.”

“…”

Lý Tứ ngậm miệng, không nói thêm gì nữa.

“Tại sao những kẻ đó lại truy sát ngươi?” 

Lý Tứ xoa cằm nói:

“Chà, chuyện cũ ấy mà. Mười mấy năm trước, khi tôi còn là một thanh niên anh tuấn tiêu sái ngọc thụ lâm phong, chuyện phải kể từ em bán thịt con nhà đồ tể Lưu ở cuối xóm…… Chậc, thiếu gia cứ nhìn tấm gương tôi đấy, nợ gì thì nợ tuyệt đối đừng có nợ phong lưu, phụ nữ về bản chất cô nào cũng giống nhau, sâu thẳm trong tâm hồn họ là cả một con cọp cái đấy…” 

.

Những đứa nào còn nhỏ thì cứ đầu gấu lên, đừng bao giờ để giống như tui. Rồi lúc nào cũng éo hiểu vì sao mình lại sống. 

Mình vốn cũng muốn thử hết mọi thứ trước khi tự sát vào năm 35 tuổi :) 

Ghi chép

1. Xác định phương hướng trong rừng nhiệt đới.

– Mặt trời.

– Sao Bắc Đẩu.

– Kinh nghiệm đi rừng, các đặc điểm về cây cối, đá… Dưới phần thân cây bên dưới hay có các loại rêu, hướng rêu mọc thường ngả về phía ánh sáng mặt trời, hướng Đông Nam.

Rừng mưa Việt Nam đầy vắt, khủng khiếp nhất là vắt. Có những con vắt to như con đỉa trâu, lỡ mà nó bám đầy người thì rùng rợn, ngồi gỡ mệt nghỉ. Vắt đen đầy đất, vắt xanh đầy trên cây. Vắt bám vào bàn chân rồi leo lên, có khi leo lên tận háng mà không biết. Khốn nỗi, vắt cắn tiết ra chất chống đông máu. Bởi thế có khi bên dưới lớp áo quần máu chảy đầm đìa ra, thấm ướt hết mới biết bị vắt cắn. Đi rừng đã mệt, thiếu ăn thiếu ngủ, còn bị mất nhiều máu thế, mặt mũi xanh lét như tàu lá chuối. Phải mang theo mình một ống nước bồ hòn, thêm muối hoặc xà bông thì tốt, để chấm vào cho vắt nhả ra.

Trong đoàn hay có 1 ông dân tộc làm giao liên dẫn đường, hồi đó đoàn của cụ hay do người Vân Kiều dẫn đường.

Mấy người dân tộc thích nghe kể chuyện lắm, cụ là trí thức, bụng đầy chữ nghĩa, mấy người dân tộc cứ giành làm hết việc cho để đến tối cụ lại kể chuyện. Truyện Ngàn lẻ một đêm, truyện Tam quốc, truyện Thủy hử… truyện gì cũng kể được, có những khi bí thì cứ bịa ra mà kể.

Đi rừng không khó, khó ở chỗ bom đạn cứ rải trên đầu. Cung đường phía Tây Trường Sơn do đoàn 559 khai mở, ước chừng cứ đi một ngày đường là đánh dấu làm một trạm, đi dọc Trường Sơn phải qua nhiều trạm, mỗi trạm lại có trạm trưởng, trạm phó, vài người canh giữ trạm. Trạm có thể là hang núi, hang đất hoặc đào hầm giấu kín. Đoàn lính cứ đến được một trạm là lại có người báo lên trạm phía trên, trạm phía trên liền cử giao liên xuống dẫn đường. Giao liên có nhiệm vụ thông báo các nguy hiểm trên đường và dẫn đi tuyến đường an toàn nhất để đến nơi. Ví dụ, giao liên nói tuyến này cứ sau 11h trưa là bị bom cày nát, nên phải đến được nơi trước 11h trưa, vậy là 3h sáng phải dậy chuẩn bị để 5h xuất phát. 

Đi rừng không được đi tạo thành đường mòn, để lộ vị trí hậu cứ. Tuyến đi tuyến về không bao giờ được trùng nhau. Có những lúc đang đi, trưởng đoàn dừng lại, rẽ một bụi cây, đi vào hướng ấy. Người cuối cùng đi qua, xóa sạch dấu vết rồi mới đi tiếp. Có những trạm còn cấm nửa đêm đốt lửa trại.

Đương nhiên, nấu nướng bao giờ cũng dùng bếp Hoàng Cầm.

2. Tuyến đường Tây Trường Sơn.

Ông cụ kể, ai mà hành quân đi tuyến Trường Sơn Tây thế nào cũng biết Ba Thang Cổng Trời. Đó là vị trí nơi người ta vượt dãy Trường Sơn để về miền Trung Việt Nam. Ở đó vách đá dựng đứng, lởm chởm đá tai mèo. Có 3 cái thang người ta bắc ở đấy, xếp chồng trên từng chặng vách núi. Thang là loại thang gỗ, chặt từ cây rừng ra, dùng dây mây buộc lại, chiều rộng thang chỉ có một khoảng hẹp, cỡ ba bốn gang tay. Vách đá dựng đứng, nên thang bắc cũng dựng đứng. Tay không, dép lốp mà leo thôi chứ chả có đồ bảo hộ gì, lưng vác khoảng 20 30 cân hành trang. Vượt hết được 3 chặng thang đó là đến “cổng trời”. Cổng trời là một hang động lớn, cửa hang hình vòm. Trên núi thì không có nước, trong hang mát lạnh, chỉ có nước nhỏ tong tong từ trên xuống. Ở Lào đương mùa khô, trèo lên được đến đỉnh khát cháy cả cổ, đứa nào đứa nấy tranh nhau ngửa cổ hớp nước nhỏ từ trên xuống.

Ngoài ra còn thấy cụ nhắc đến hai trạm có tên Cao Bồi Non và Cao Bồi Già, trạm Cao Bồi Già ở trên cao hơn. Cụ thể không còn nhớ rõ.

Vượt qua Trường Sơn, thời tiết thay đổi chóng mặt. Nếu ở Lào đang là mùa khô, thì vừa đặt chân sang Việt Nam là trời mưa tầm tã.

3. Mắc võng trên rừng.

Không phải cứ mắc võng vào hai thân cây rồi căng bạt che là xong. Như vậy mưa rừng xuống thế nào nước cũng rỉ vào dây dù, thấm ướt hết võng. Ngày xưa bộ đội được cấp “tăng võng”. Võng là loại võng bạt, một nửa buộc 2 đầu dây một nửa không, khi nằm gập nửa còn lại vào thành chăn đắp. “Tăng” là loại bạt giăng bên trên võng để tránh mưa.

Chặt cành làm 2 cái cọc chắc chắn, cao cỡ một người. Cắm 2 cọc ở gần 2 cây to đối nhau, cách cây chừng 30 40cm. Buộc dây dù vào cọc rồi căng ra buộc cố định vào thân cây, như thế mắc võng lên 2 cọc, cọc mới không bị nghiêng. Bấy giờ mới giăng bốn góc “tăng” lên cành cây, như thế vừa che được võng vừa che được cọc, nước mưa không thấm ướt dây dù lan ra võng được nữa.

Cá biệt trong lúc chặt cành làm cọc, cụ phạt bớt cành đi nhưng không vót nhẵn, để lại vài mấu cành làm móc treo đồ, treo ba lô và băng đạn. Riêng súng thì bao giờ cũng kè kè bên người. “Súng là vợ, đạn là con” mà lỵ. 

4. Thanh niên trẻ với chút mộng mơ.

Cụ kể, một ngày ngồi canh trên cứ điểm nơi đầu nguồn sông Hương, ngẫm nghĩ nếu cứ xuôi theo dòng chảy êm êm này, vòng vèo một hồi, thế nào cũng về đến Huế. Ngày sau Giải Phóng, người thanh niên ấy đã quay về đầu nguồn sông Hương (không phải nơi cứ điểm cũ vì chỗ đó cách quá xa), chặt tre chặt mây làm thành bè, thả mình trôi trên dòng sông Hương, trôi suốt một ngày một đêm mới về đến Huế.

.

Chiến trường B, 1970 – 1975.

Ngắn 2

196x.

Người đàn ông tuổi đã sang dốc kia của cuộc đời, ngồi lặng người giữa căn nhà trống huếch trống hoác. Tiếng ầm ĩ náo động vẫn nhí nhéo ì xèo ở ngoài kia, văng vẳng vài tiếng “Đả đảo” gì đó, trái ngược hẳn với sự trống trải tĩnh lặng trong gian nhà này, giống như một khúc nhạc nền quái đản vậy.

Đột nhiên, cổng mở, có người hoảng hốt chạy vào trong, rồi đóng cửa, cài then kỹ lưỡng. Là lão quản gia. Lão lập cập bước qua bậc thềm, cuống quít nói:

“Nhị gia, mau đi thôi, mau đi thôi, người ta đến rồi!”

Người đàn ông bấy giờ mới giật mình như vừa sực tỉnh khỏi cơn mê nào đó.

“Đi ư?”

“Đúng vậy, chạy ngay thôi, cổng sau đã chuẩn bị xong hết rồi, chúng ta chỉ cần lên đến Bắc Bình là có người của Cửu gia lo liệu cả.”

Người đàn ông nhấp một ngụm trà, đó là ít trà cuối cùng vét lại trong nhà. Trà thượng hạng, nhưng bảo quản không tốt, mùi trà thơm hơi pha lẫn mùi ngây ngấy của củi dầu. Ngẫm nghĩ một lát, ông mới khẽ thở dài, đứng dậy.

Ông vào gian nhà trong. Hành lý đã được đóng gói đâu vào đấy hết rồi.

Ông nhớ đến lời phụ thân từng nói, đến một lúc nào đó, cái nghề này không thể truyền xuống được nữa, vì thế gian không còn cần nó nữa. Từ nhiều năm trước, cái ngày ông cắt bỏ mái tóc dài, cũng là vì ngày này.

Nhưng sao trong lòng vẫn thấy khó chịu đến vậy?

Ông mở toang cánh cửa tủ gỗ gụ ra, bên trong treo đầy những bộ hí phục rực rỡ đủ màu sắc. Ông lấy hết ra, ôm ra giữa sân. Ở đó đã chất đống những món đồ gỗ quý giá khác nữa. Quanh gian nhà và cả đống gỗ đó đã rải sẵn đầy xăng dầu. Ông đốt một ống bùi nhùi, đứng nhìn cả căn nhà đã tồn tại qua bao đời người lần cuối, rồi quả quyết gieo một mồi lửa xuống.

Lửa bùng lên.

Bao nhiêu phong hoa tuyệt đại của cả một thời quá khứ dài dằng dặc, nay chìm trong biển lửa. Những bộ hí phục rực rỡ bốc cháy ngùn ngụt, trông như những cánh bướm giãy giụa trong lửa đỏ.

Cả ngôi nhà cháy rụi, chôn vùi theo nó những bí mật của cả mấy thế hệ.

 

Sến đến sởn da gà

Fanfic JX3 hồi xưa viết cho event gì đó không nhớ của VNG, hồi đấy đã viết hai bài, một bài là về Tàng Kiếm ở đây, một bài là bài về Thiên Sách này mình giếm đến tận bây giờ. Thực ra cái fic về Tàng Kiếm kia thì thể hiện đúng tinh thần của mình hơn, còn fic này thì chỉ là viết theo phong trào ngôn lù cho nó hợp thị hiếu thôi, mà cũng đéc hợp thị hiếu cho lắm =]]]]]]]]

Hồi đấy bị giới hạn 1k5 chữ, 1k5 chữ thì viết cái đéc gì ngoài mấy thứ non-plot sến súa nhảm nhí cơ chứ =]]]]]] Mặc dù viết ngôn lù sến súa nhưng vẫn không kìm được phải bắn hint, đậu mịa =]]]]]]]]


.

.

Đường Huyền Tông năm Thiên Bảo thứ mười bốn, An Lộc Sơn dấy binh tạo phản.

Chiến hỏa mù mịt, can qua không ngừng, bách tính đồ thán, vạn nhà kêu than. Thiên Sách Phủ xuất đầu lộ diện, xuất binh kháng địch, phòng thủ thành trấn.

Phản quân thế đánh như chẻ tre, quân triều đình trung ương lực lượng mỏng, lại tản mác. Mệnh nước cuối cùng đặt cả lên vai Thiên Sách Phủ, cũng đặt cả lên vai Lý tướng quân.

Lý tướng quân…

.

Tào Tuyết Dương ta, cuộc đời chẳng có gì để bàn. Mười sáu năm đầu đời của ta như một giấc mộng Hoàng lương, mộng tươi đẹp mà ngắn ngủi, cái gì xinh đẹp cũng đều chẳng tồn tại lâu. Có những khi hoảng hốt tỉnh dậy, quá khứ của mình mà cứ ngỡ của ai.

Ngày ta tỉnh mộng là ngày ta rơi vào vực sâu tận cùng của nỗi tuyệt vọng, cũng là ngày ta biết đến hy vọng. Thời khắc bước qua Đại môn phủ Thiên Sách, ta biết, ta vĩnh viễn không bao giờ có thể trở về làm “Tào cô nương” của Quan Tây tiêu cục năm nào nữa.

“Lý tướng quân, mạng này của tiểu nữ do ngài cứu về, vậy thì cả cuộc đời này xin đầu quân dưới trướng phò trợ ngài.”

“Quân ta không nhận nữ tử. Ta có thể thu xếp cho ngươi một chỗ ở tại Trường An, hãy đi đi.”

Người đàn ông với đôi mắt sáng như sao và chiến bào đỏ rực màu máu đã nói như thế, trong chiều hoàng hôn thê lương ngày ấy.

“Lý tướng quân, vì cớ gì nữ tử không thể tòng quân?”

Ta không cam lòng chịu phận nữ nhi yếu đuối, ta không cam tâm chịu bất lực, không thể bảo vệ được những gì mình yêu quý. Ta tình nguyện chôn cả tương lai nơi sa trường vạn dặm, dẫu xác này có bọc trong da ngựa, dẫu thây này có phơi ngoài nội cỏ, chỉ cần trường thương ta còn thẳng, thì lòng ta vẫn thẳng, chỉ cần trường thương ta vẫn bén, thì ta quyết không buông tay, dù mình ta không cứu được cả thiên hạ, nhưng ta thề bảo vệ tất cả những gì ta có thể bảo vệ.

Đó là câu trả lời của ta.

Là quyết định của ta.

Lá cờ đỏ thắm từng phấp phới trong giấc mộng hôm ấy, hãy để nó trở thành cả cuộc đời của họ Tào này.

.

“Phản loạn Tây Vực đã dẹp yên. Tiểu Tuyết, công đầu thuộc về ngươi đó.”

“Lý tướng quân, ngài quá khen thuộc hạ rồi.”

“Từ giờ người không cần phải giả làm nam nhi nữa. Đừng quỳ, đứng lên đi, Tuyên Uy tướng quân.”

Người đàn ông ấy vẫn như năm nào, chiến bào đỏ rực và đôi mắt sáng như sao. Vẫn bàn tay ấm áp ấy đỡ ta dậy. Mười năm, không nhiều, cũng chẳng ít.

Nhưng ta vẫn chỉ quỳ trước mình ngài.

Ân nhân của ta, thầy của ta, chủ tướng của ta, chiến hữu của ta…

.

“Tiểu Tuyết, cầm lấy.”

“Tướng quân, đây là..?”

Ta vừa kinh ngạc vừa lúng túng nhìn cây trâm bạch ngọc khắc hình hoa mai trên tay. Lý tướng quân ho khan hai tiếng, cười nói:

“Dù sao cũng là nữ nhi, để ý mình một tí.”

“…”

“Vậy thôi, ta đi đây.”

“Khoan đã, tướng quân, ngài đi đâu vậy?”

Ta trông theo bóng người tiêu sái quay lưng bước đi, chiến bào phấp phới như lửa rừng rực cháy giữa trời chiều. Ngài không ngoảnh lại lấy một lần.

“Hàng Châu, Tàng Kiếm sơn trang.”

.

Loạn An Sử.

Suốt hai mùa trăng, trăng hết tròn lại khuyết. Lạc Dương đã bại. Có những người anh em chẳng trở về.

Hoàng đế nghe lời gièm pha, chém hai tướng Cao Tiên Chi và Phong Thường Thanh. Năm Thiên Bảo thứ mười lăm, ta nhận mệnh theo Kha tướng quân Kha Thư Hàn xuất kích trấn thủ Đồng Quan, số quân mang theo tổng 20 vạn.

Lý tướng quân thủ tại Trường An.

Trước khi ra đi, như một thói quen, chúng ta lại cùng nhau ngồi trên mái Thiên Sách phủ. Có chén rượu đục, có đĩa lạc rang, có trăng Trường An ngời sáng lạ thường.

“Tiểu Tuyết, ngươi năm nay bao nhiêu rồi nhỉ? Sao vẫn chưa thấy có ý trung nhân gì hết vậy?”

“Tướng quân, tiểu tướng già rồi, còn lấy ai được nữa. Đời này tiểu tướng chỉ mặc quân trang, không mặc giá y.”

“Kẻ nào dám chê Tuyên Uy tướng quân tài nghệ hiển hách của ta?”

Ta không nói gì, hai mắt long lanh trầm mặc nhìn người đối diện. Lý tướng quân hơi giật mình, rồi cười khổ, vươn tay xoa đầu ta. Người cũng chẳng nói gì. Có những lời không cần nói ra miệng, cả hai đều hiểu. Làm chiến hữu cùng vào sinh ra tử suốt gần hai mươi năm, lại càng hiểu.

Có những tình cảm không thể cưỡng cầu, mà lòng vẫn tơ tưởng. Như mảnh trăng đất Trường An hoa lệ kia, đã cho ta quá nhiều, dù tham lam thêm nữa, vẫn vĩnh viễn không thể nào với đến được. Đã chẳng thể cầu, ta đành tự có cách yêu thương của riêng mình.

“Lý tướng quân, chờ ta…và các huynh đệ trở về.”

Ta mỉm cười.

.

Đồng Quan thế đất hiểm trở, dễ thủ khó công. Biết nhuệ khí phản quân đang lên, Kha tướng quân án binh không đánh, tử thủ giữ thành. Đang thế giằng co, mùa xuân năm ấy, trận Gia Sơn thắng lợi. Phản quân rơi vào cảnh nguy khốn, mắc kẹt tại Đồng Quan. Nếu cứ giữ được thế ấy, phản tặc An Lộc Sơn tất đại bại.

Tuy nhiên, người tính không bằng trời tính, thừa tướng Dương Quốc Trung từ lâu đã có hiềm khích với nguyên soái Kha Thư Hàn, bèn gièm pha, xúi giục hoàng đế mau thúc Kha tướng quân xuất kích. Quân vương u mê, tin lời gian thần, lại nóng lòng muốn dẹp loạn, nên mấy lần ra chiếu nhất quyết ép Kha tướng quân ra trận.

Tháng sáu năm Thiên Bảo thứ mười lăm, nguyên soái Kha Thư Hàn bị dồn đến đường cùng, không thể không tuân mệnh, đành gạt nước mắt mang quân ra đánh. Kha tướng quân trước đó đã dong thuyền đi quan sát thế trận phản quân, thấy địch ít mới yên tâm lên đường.

Ta đánh hơi thấy điều chẳng lành.

Ngày xuất quân, ta đem ba ngàn kỵ binh Thiên Sách đi sau đại quân bọc hậu, cách một đoạn khá xa và len lỏi đường rừng. Quả nhiên, đại quân vừa qua hẻm núi, liền rơi vào phục kích của quân địch. Phản quân túa ra từ khắp các nơi ẩn náu, quăng đá, bắn tên tới tấp vào quân Đường.

Chỉ chờ thời cơ ấy, ta vung trường thương, hét to một tiếng: “Sát!”

Phản quân đi tập kích, lại bị tập kích bất ngờ ngược lại, trong phút chốc luống cuống, khí thế tan vỡ. Lợi dụng tình hình ấy, quân ta phản đòn đánh ngược lại, giặc chết như rạ.

Ngay thời khắc ấy, ta bất chợt cảm thấy trong bụng mình có một luồng hơi nóng rẫy chạy xộc thẳng lên tận đỉnh đầu, khiến đầu váng mắt hoa, tay chân rã rời. Chớp mắt, suýt gục ngã, ta bèn ôm lấy lưng ngựa, ngồi lại cho vững rồi liếc mắt nhìn xung quanh. Các huynh đệ Thiên Sách ai nấy cũng đều đột nhiên ngã nhào xuống ngựa. Lòng ta chợt lạnh.

Hỏng! Có nội gián!

Ta bỏ liệt mã, trong cơn choáng váng ngã khuỵu xuống giữa sa trường. Bốn bề bỗng vang lên tiếng gầm thét rung trời. Lửa từ đâu bùng lên, lửa liếm lên cỏ khô, bốc khói khét mù, theo gió hun thẳng xuống dưới hẻm núi. Ta nghiến răng, bất lực trợn mắt nhìn những người anh em, từng người, từng người ngã xuống, máu vung tứ phía, nhuộm núi đá Đồng Quan một sắc đỏ ngầu.

Hay cho một kế bọ ngựa bắt ve, chim sẻ đứng rình, người giương cung sẵn chờ bắn chim sẻ! Đồng Quan núi dựng tầng tầng lớp lớp, đại quân Đường triều đi qua hẻm núi, phản quân phục kích ở tầng núi trên. Thiên Sách ta kéo tới cứu viện, vừa hay giặc còn phục kích ở tầng núi trên cao nữa. Hai tầng mưa tên bão đạn đổ ập xuống hẻm núi, nhân gió thổi mạnh, đốt thêm hàng chục xe cỏ khô, gió thổi lửa càng lan rộng, khói càng mù mịt, quân tâm loạn càng thêm loạn! Lại mua chuộc nội gián, trước đêm xuất kích lén hạ độc vào nguồn nước, để bây giờ vừa khéo lúc độc phát tác.

Than ôi, trời xanh muốn diệt quân ta rồi!

Lúc ấy, có vài tướng sĩ thân tín vội vã chạy đến bên ta, hoảng hốt nói:

“Tướng quân, Đồng Quan đã thất trận, xin ngài mau chạy về hướng Tây, chúng tôi sẽ cản quân giặc lại!”

“…”

“Tướng quân!”

Ta không đáp lời. Chiều buông, tà dương đỏ như máu. Ta quay về hướng thành Trường An, cúi đầu lạy ba lạy.

Tướng quân thứ lỗi, Tiểu Tuyết hôm nay không về Trường An, trăng Trường An, xin tướng quân hãy giữ gìn, để dành cho Tiểu Tuyết.

Đoạn, ta bỏ mũ sắt, cởi áo giáp. Tóc búi cao bằng cây trâm bạch ngọc hoa mai, nhiều năm qua chưa từng rời khỏi người. Tay cầm trường thương, miệng hô lớn:

“Trời muốn nước ta diệt, nay ta quyết nghịch thiên! Đánh trăm trận, chém trăm quân, dù tan thây nát thịt cũng có xá gì!! Chúng tướng sĩ Thiên Sách ta ở đâu!!”

Nói đoạn, ta đi tiên phong, phóng thẳng vào quân địch. Chém giết điên cuồng, máu ướt chiến bào, lửa liếm da thịt. Một tay vung, trường thương như phóng qua ngàn dặm. Giữa khói lửa binh đao, cây trâm bạch ngọc rơi từ khi nào chẳng hay biết.

Trâm mất, tâm cũng mất.

Thân xác ta, linh hồn ta, dâng cả cho Đại Đường. Còn tâm này, là chút vị kỉ cuối cùng ta có thể dành dụm được. Một kiếp này ta sống quá phong lưu, quyết chẳng hối hận.

Lý tướng quân, Tiểu Tuyết bảo vệ được những gì mình yêu rồi, phải không?

.

Sử viết: Tuyên Uy tướng quân, tay cầm trường thương, giết hơn ngàn tên phản quân, kiệt sức, hi sinh, năm ấy mới hơn ba mươi tuổi. Ba ngàn thiết kỵ Thiên Sách phủ đại chiến Đồng Quan, toàn bộ ba ngàn năm trăm hai mươi bảy người, không một ai sống sót.

Đồng Quan thất thủ, quân Yên thừa thắng ồ ạt tiến vào Trường An. Đường Huyền Tông mang theo Dương Quý Phi và thừa tướng Dương Quốc Trung bỏ chạy về đất Thục. Quân Thiên Sách phủ do Lý Thừa Ân cầm quân chặn tại Trường An, yểm trợ cho hoàng đế, cuối cùng, toàn bộ hi sinh. Năm ấy, Lý Thừa Ân bốn mươi sáu tuổi.

Từ đó, toàn bộ Thiên Sách phủ diệt vong, vĩnh viễn không thiết lập lại.

Về sau, dân gian có câu lưu truyền:

“Sinh thời chẳng tính chuyện ma chay
Máu đào nhuốm cát giữ Đại Đường
Ngoài thành Lạc Dương ba nghìn lính
Ngựa trắng thương bạc Đông Đô lang.”

Trời má

Tui vừa dịch xong cái fic Khải Hồng bên kia, bỗng cảm thấy muốn quăng luôn cái kịch bản fic của mình đi quá 😂😂 Khai thác từ nguyên tác ra thì quá máu chó, hồi trước sau khi tui đã hiểu ra bi kịch của LCM là đã thổ huyết rồi, giờ vần vò xong mớ lá ngón kia liền hạ đường huyết, thật sự đấy, tui viết thêm một mớ máu chó nữa thì có nghĩa lý gì cơ chứ ngoài việc tiếp tục hạ đường huyết 😂😂

Tui muốn thử nghiệm viết cái gì đó mới, vẫn cứ viết vài đoạn ngắn bất chợt rồi tính sau vậy.

.

Lão Béo từng kể, thấy bảo trên đời này đếch có đàn ông tốt, nên mới cố tình xây dựng một nhân vật như Nhị Nguyệt Hồng. Thiệt ra mình thấy nhân vật nam của lão đều si tình như vậy mà, từ Bán Tiệt Lý cho đến Hắc Bối Lão Lục 😂 Mình có hứng thú với thời trẻ của nhân vật này hơn, bởi giai đoạn sau 1950 quá kinh khủng, mình nghĩ thời trẻ đó là một người rất cường đại, rất biết nghĩ cho những người mà mình quan tâm, đồng thời vẫn có chút gì đó nhiệt tình sôi nổi của tuổi trẻ. Ít ra thì lúc này vẫn còn vui vẻ được.

Còn Trương Khải Sơn, ông ta là 1 người có nhiều điều bất đắc dĩ. Ngay cả khi Nhị Nguyệt Hồng chọn cách lùi về để bấu víu lấy những gì còn lại của mình, thì ông ta vẫn luôn luôn là kẻ đứng ở vị trí không có đường lùi. Người ngoài có thể thấy ông ta tuyệt tình, không nghĩ đến vợ con gia đình, nhưng một khi đã đứng ở vị trí của ông ta, thì lùi một bước là vạn kiếp bất phục. Trái lại mình thấy ông ta là người rất trọng tình trọng nghĩa. Đây là người cáng đáng nhiều gánh nặng không thể tưởng tượng được nhất trong số tất cả 9 người, cũng đành chấp nhận làm cái bia để anh em phỉ nhổ căm hận. Cái cảm giác nỗ lực cả đời người để đạt đến được một vị trí, cuối cùng vẫn bất lực trước guồng quay nghiệt ngã của số phận trong thời kỳ đầy biến động ấy, tự dưng mình nghĩ đến một trường đoạn trong một bộ phim về Diệp Vấn, khi ông bất lực chứng kiến những đứa con mình dần chết đói, thất thểu đưa con đi tha hương khắp nơi, lần lượt bán đi từng món kỷ vật cứ ngỡ là quý giá nhất của mình để mưu sinh. Đặt nhân vật vào giữa nhiều mâu thuẫn giằng xé cả bên trong lẫn bên ngoài như thế, cảm giác rất chân thực.

Thiệt ra ship 12 là kiểu bromance thôi chứ ko nghĩ gì nhiều hơn nữa, ít nhất thì cho đến bây giờ vẫn cảm thấy mới chỉ có mình Nhị Nguyệt Hồng là hiểu tất cả những điều bất đắc dĩ của họ Trương.

Đm cho tao ngủ đi não

(…)

Cậu chủ trẻ Nhị Nguyệt Hồng năm ấy chẳng mấy hứng thú với nghề tổ truyền nhà mình. Dầu gì cũng thuộc ngoại bát hàng, làm trộm mộ tặc rõ là kiếm lời bất nghĩa, nhưng làm kép hát cũng chẳng cao sang gì. Ngày ấy thời thế xoay vần, nước Đại Thanh sụp đổ, nước Dân Quốc ra đời, những gì Tôn tiên sinh nói nghe thật lạ lẫm, cũng khiến người ta mơ ước làm sao. Nhưng cái mơ mộng ấy còn chưa thành thực, thì quân phiệt hoành hành cát cứ khắp nơi. Cậu từng hát mua vui cho bao tên quân phiệt rồi, cũng biết thừa đầy rẫy những thứ quy tắc trong xã hội rối ren này, chỉ là chẳng biết làm sao, mọi guồng quay cứ cuốn lấy.

Một lần phụ thân mới nói, nghề này của chúng ta, đành rằng không phải thứ tốt đẹp gì, nhưng xã hội luôn cần, thì mới truyền xuống được. Xưa có Mô kim hiệu úy, là thanh chủy thủ cần dùng trong bóng tối, không thể ra ngoài sáng, thì bây giờ cũng thế. Dân đãi cát xưa nay, một là vì cuộc đời bức bách, hai là vì vốn là “thanh chủy thủ” của ai đó mà thôi.

Đến một lúc nào đó, nghề này của tổ tiên ta cũng không thể truyền xuống được nữa, nhưng khi ấy cũng là lúc không cần dùng đến nó nữa. Cũng như xưa ta không thể cắt búi tóc, nhưng rồi con xem, bây giờ thế gian lại chẳng coi búi tóc ra cái gì, cứ vậy mà cắt sạch. Thế sự là vậy.

Đến lúc ấy Nhị Nguyệt Hồng mới lờ mờ hiểu ra điều gì đó. Nhưng giờ vẫn chưa phải lúc ta cắt tóc, chàng trai trẻ ấy đã nghĩ như vậy.

Nháp 2-2

(Mình vẫn chưa quyết định được nên sắp xếp cấu trúc như thế nào, nên cứ viết đại từng đoạn ngắn đã sửa sau)

.

Một buổi chiều đầy nắng.

Một cậu bé mặc áo vải thô đứng dưới gốc cây hòe trong sân. Cậu ngẩng đầu lên, quệt mồ hôi ròng ròng trên trán.

“Thiếu gia! Lão gia sắp về rồi, thiếu gia mau xuống luyện công tiếp đi thôi, kẻo lão gia về thấy lại trách phạt nữa.”

Phía trên, một thiếu niên tuổi chừng 16, 17 đang nằm sấp bám vắt vẻo trên cành cây hòe như con khỉ, cầm que chọc tổ chim nho nhỏ trên cành. Con trai đương độ dậy thì, ngũ quan vừa có nét góc cạnh đặc trưng của đàn ông, lại vừa có vẻ ngây ngô của con nít. Mà cậu thiếu niên này, cả khuôn mặt thu hút nhất là đôi mắt, đôi mắt có đồng tử to tròn, hắc bạch phân minh, đuôi mắt dài, vành mắt hơi ửng hồng, con mắt ươn ướt, điển hình một đôi mắt đào hoa. Đôi mắt đã định trước cuộc đời lắm phong lưu.

“Lại luyện công cái gì? Mông ta vẫn sưng, còn chưa xẹp đâu. Lão đầu tử ra tay rõ ác, chẳng nể nang tí gì. Thế nào rồi tối cũng phải nằm sấp mà ngủ.”

Đứa ở mới nói:

“Thiếu gia đừng nói thế, lão gia làm vậy cũng đều vì muốn tốt cho cậu thôi. Thôi, cậu đừng dỗi nữa, cậu xuống rồi con xin hầu cậu bôi thuốc.”

Cậu thiếu niên vặc lại ngay: “Ai dỗi cơ chứ, ngươi…”

Còn chưa dứt lời, từ phía sau bỗng vang lên tiếng chí chóe. Cậu thiếu niên nổi cơn tò mò, trèo thoăn thoắt lên một cành cây cao hơn, ngó ra ngoài bờ tường tiểu viện, trông chẳng có vẻ gì là đang “trọng thương” cả.

“Đánh chết nó!”

“Thằng con hoang, chỉ giỏi làm vướng tay vướng chân!”

“Cái thứ tạp chủng, chẳng hiểu sao các thúc bá nghĩ gì mà cho nó theo tụi mình nữa!”

Thì ra là mấy trò bắt nạt kẻ yếu thế của tụi nít ranh, cậu nghĩ. Bọn trẻ khoảng mười tuổi, có đến chừng bảy, tám đứa xúm lại cùng đánh một đứa. Thằng bé gầy còm, quần áo đầy bụi bẩn lem nhem, mím chặt môi im lìm không nói một câu, hai tay ôm đầu tự bảo vệ mình. Thi thoảng, có những lúc chống trả được, nó đáp trả lại ngay, động tác nhanh nhẹn đâu ra đấy. Nhưng chút chống cự ít ỏi đấy chỉ khiến nó nhận thêm nhiều cú đòn ác liệt hơn giáng xuống. Xem ra, lũ nhóc này trông thế mà cũng có căn cơ đàng hoàng, chắc hẳn cũng được học công phu đến nơi đến chốn. Chẳng qua thằng nhóc này đúng xui xẻo, một mình chấp đến cả gần chục đứa thì có ba đầu sáu tay cũng không lại.

Bỗng dưng, thằng bé kia ngẩng phắt đầu lên. Bấy giờ mới thấy, đôi mắt nó rất đen, rất sáng, như cháy rừng rực một ngọn lửa nào đó. Không hiểu sao, nhìn thấy đôi mắt ấy, cậu thiếu niên kia lại có chút giật mình.

Cậu với tay xuống dưới, nhặt lấy một cục đá vụn trên bờ tường, phi vèo một cái trúng đầu thằng nhóc có vẻ lớn tuổi nhất trong số đó, hình như là đứa cầm đầu cả bọn.

Thấy động tĩnh, bọn nhóc đồng loạt ngừng bặt lại, ngẩng đầu lên. Thiếu niên từ trên cây nhẹ nhàng nhảy phắt xuống dưới, cười nói:

“Này mấy đứa, tám đánh một là chơi không đẹp đâu đấy.”

Đứa lớn trong đó ngay lập tức đỏ mắt vặc lại:

“Liên quan đếch gì đến ngươi?”

Nhưng ngay sau đó, một đứa khác trong bọn kéo giựt nó lại, thì thầm vài câu. Mặt nó biến sắc ngay tức thì.

Dù nước Đại Thanh đã sụp đổ được mấy năm, nhưng mấy đứa nhóc nhà nghèo dù có vô tư đến mấy thì không thể không khắc ghi nguyên tắc sinh tồn trong xã hội phân tầng khắc nghiệt. Bởi vì người trẻ tuổi này quá sạch sẽ, quần áo trắng tinh tươm, thì chỉ có thể là con nhà có tiền, hoặc con nhà có quyền. Đắc tội nhà có quyền có tiền trong thành, thế nào cũng chuốc lấy phiền.

Đứa kia thì thào nói:

“Mày quên à, đại đương gia của địa bàn này vốn ngụ ở khu này, bây giờ ngộ nhỡ to chuyện, làm kinh động đến người ta, thì nhiệm vụ của ta tính sao. Chúng ta lặn lội đến đây cũng không phải vì điều này.”

Bọn chúng lom lom nhìn cậu thiếu niên, rồi quỳ xuống lạy nói:

“Thưa ông, chúng con không biết, vô tình mạo phạm, mong ông bỏ quá cho.”

Cậu thiếu niên kia chẳng biết trong lòng còn lại dư vị gì chan chát, đành phất tay, tùy tiện nói:

“Thôi đi đi.”

 Bọn nhóc kéo nhau đi, trước khi đi còn quay lại trơn mắt với thằng bé đen nhẻm nọ. Thằng bé đó thấy tụi kia đã lục tục bỏ đi, bấy giờ mới lồm cồm bò dậy, chỉnh trang lại quần áo, nhặt khăn gói của mình lên, định đi thẳng.

Cậu thiếu niên trợn mắt, gọi lại:

“Này tiểu quỷ, nhà ngươi tên gì?”

Bấy giờ thằng bé mặt mày đen thui đó mới chịu quay lại, cúi đầu đều đều nói:

“Tôi họ Trương, hôm nay xin cảm tạ ơn cứu giúp của ngài, ngày sau xin báo đáp.”

Một câu khách sáo như thế, mà cũng làm ra dáng một đại lão gia lắm, cái quỷ gì mà “ngày sau báo đáp”, rõ ràng chỉ là lời nói suông. Cậu thiếu niên lần đầu gặp phải thằng quỷ con đáng ghét đến vậy, mới lúc nãy còn nhìn mình ghê lắm kia, quay đi ngoảnh lại đã phủi sạch quan hệ ngay rồi. 

“Không được, đãi bôi một câu như thế đã muốn chuồn đi là thế nào? Chi bằng ngươi bồi ta đến đây một chuyến coi như báo ân, thế nào?”

(…)

Nháp 2

2.

Những gánh hát trong xã hội cũ, thường thu nuôi những đứa trẻ mồ côi bị vứt bỏ, hoặc là, những đứa nhà nghèo mà đông anh chị em, cha mẹ nuôi không nổi mới bị bán vào cho có chỗ nương thân, chúng sẽ được học kịch, học hát, học tạp kỹ, những đứa xuất chúng có thể trở thành “danh giác”, những đứa tầm tầm thì làm tôi làm tớ cả đời. Cá biệt có những người phục vụ trong gánh hát qua đến mấy thế hệ. Thành Trường Sa có một gánh tuồng Hoa Cổ như thế.

Không biết ban chủ họ gì, nhưng người ta vẫn thường gọi là “ông chủ Hồng”. Gánh hát nhà họ Hồng đã cắm rễ ở đây từ bao giờ không ai biết, từ rất lâu trước kia người ta đã thấy, chắc hẳn, truyền thừa cũng được mấy đời. Dân tình phỏng đoán chắc hẳn nhân vật lớn đằng sau gánh hát này có bối cảnh ghê gớm lắm. Trong xã hội cũ, bỏ tiền ra lập gánh hát gọi là “chỉnh hí”, phải là người có tiền, có thế lực mới làm được. Nhưng chẳng ai biết người đứng sau gánh hát đó là ai, bởi vậy cũng chẳng mấy ai cả gan đắc tội, sợ lỡ vuốt nhầm râu hùm.

Người ngoài không biết, nhìn vào cũng chỉ thấy Hồng ban chẳng qua chỉ là một gánh hát Hoa Cổ dân gian như bao gánh hát khác, chẳng có gì nổi trội. Nhưng người trong nghề ai nấy đều biết, gia tộc họ Hồng xưa kia khét tiếng bạo ngược cỡ nào, chẳng qua gần đây mới im hơi lặng tiếng. Họ Hồng chiếm nguyên một địa bàn trên đất này, địa vị vững chắc, dân ngoại bát hàng đều tôn xưng một tiếng “Nhị gia”.

Ngày xưa, cuộc sống của bọn trẻ trong gánh hát thường rất cực, cứ mỗi một quý, suốt hơn trăm ngày, ngày nào cũng luyện hát, luyện tạp kỹ, từ sáng sớm tinh mơ cho đến tối mịt vẫn phải chong đèn mà luyện, ngày được bữa cơm khô, lại thường xuyên ăn đánh ăn chửi thay cơm. Hồi ấy Nhị Nguyệt Hồng còn chưa gọi là Nhị Nguyệt Hồng, chẳng rõ tục danh, là đứa con trai độc nhất của ông chủ Hồng lúc bấy giờ. Mang tiếng đại thiếu gia, nhưng cũng không dễ dàng hơn tụi trẻ đồng trang lứa chút nào. Ngoài học hát, luyện tạp kỹ, còn phải học chữ, học văn, luyện công phu tổ truyền. Đúng thế, gánh hát, chẳng qua chỉ là cái vỏ, đãi cát mới là nghề chính. Mà nhà họ Hồng nổi tiếng thủ cựu, hà khắc, bao ngón nghề đặc sắc của dân đãi cát đã thất truyền trên giang hồ từ lâu, mà họ vẫn còn lưu giữ. Cậu bé đại thiếu gia kia, khổ càng thêm khổ.

Chẳng qua Nhị Nguyệt Hồng có thiên phú, lại trời sinh tính tình phong lưu khoáng đạt, sau mới nổi danh như thế.

.

 

(tạm thời thế đã, kịch bản khung xương của tui chỉ vì phát hiện ra một điểm thiếu sót liền sập toàn bộ rồi :V :V :V)