1. Xác định phương hướng trong rừng nhiệt đới.

– Mặt trời.

– Sao Bắc Đẩu.

– Kinh nghiệm đi rừng, các đặc điểm về cây cối, đá… Dưới phần thân cây bên dưới hay có các loại rêu, hướng rêu mọc thường ngả về phía ánh sáng mặt trời, hướng Đông Nam.

Rừng mưa Việt Nam đầy vắt, khủng khiếp nhất là vắt. Có những con vắt to như con đỉa trâu, lỡ mà nó bám đầy người thì rùng rợn, ngồi gỡ mệt nghỉ. Vắt đen đầy đất, vắt xanh đầy trên cây. Vắt bám vào bàn chân rồi leo lên, có khi leo lên tận háng mà không biết. Khốn nỗi, vắt cắn tiết ra chất chống đông máu. Bởi thế có khi bên dưới lớp áo quần máu chảy đầm đìa ra, thấm ướt hết mới biết bị vắt cắn. Đi rừng đã mệt, thiếu ăn thiếu ngủ, còn bị mất nhiều máu thế, mặt mũi xanh lét như tàu lá chuối. Phải mang theo mình một ống nước bồ hòn, thêm muối hoặc xà bông thì tốt, để chấm vào cho vắt nhả ra.

Trong đoàn hay có 1 ông dân tộc làm giao liên dẫn đường, hồi đó đoàn của cụ hay do người Vân Kiều dẫn đường.

Mấy người dân tộc thích nghe kể chuyện lắm, cụ là trí thức, bụng đầy chữ nghĩa, mấy người dân tộc cứ giành làm hết việc cho để đến tối cụ lại kể chuyện. Truyện Ngàn lẻ một đêm, truyện Tam quốc, truyện Thủy hử… truyện gì cũng kể được, có những khi bí thì cứ bịa ra mà kể.

Đi rừng không khó, khó ở chỗ bom đạn cứ rải trên đầu. Cung đường phía Tây Trường Sơn do đoàn 559 khai mở, ước chừng cứ đi một ngày đường là đánh dấu làm một trạm, đi dọc Trường Sơn phải qua nhiều trạm, mỗi trạm lại có trạm trưởng, trạm phó, vài người canh giữ trạm. Trạm có thể là hang núi, hang đất hoặc đào hầm giấu kín. Đoàn lính cứ đến được một trạm là lại có người báo lên trạm phía trên, trạm phía trên liền cử giao liên xuống dẫn đường. Giao liên có nhiệm vụ thông báo các nguy hiểm trên đường và dẫn đi tuyến đường an toàn nhất để đến nơi. Ví dụ, giao liên nói tuyến này cứ sau 11h trưa là bị bom cày nát, nên phải đến được nơi trước 11h trưa, vậy là 3h sáng phải dậy chuẩn bị để 5h xuất phát. 

Đi rừng không được đi tạo thành đường mòn, để lộ vị trí hậu cứ. Tuyến đi tuyến về không bao giờ được trùng nhau. Có những lúc đang đi, trưởng đoàn dừng lại, rẽ một bụi cây, đi vào hướng ấy. Người cuối cùng đi qua, xóa sạch dấu vết rồi mới đi tiếp. Có những trạm còn cấm nửa đêm đốt lửa trại.

Đương nhiên, nấu nướng bao giờ cũng dùng bếp Hoàng Cầm.

2. Tuyến đường Tây Trường Sơn.

Ông cụ kể, ai mà hành quân đi tuyến Trường Sơn Tây thế nào cũng biết Ba Thang Cổng Trời. Đó là vị trí nơi người ta vượt dãy Trường Sơn để về miền Trung Việt Nam. Ở đó vách đá dựng đứng, lởm chởm đá tai mèo. Có 3 cái thang người ta bắc ở đấy, xếp chồng trên từng chặng vách núi. Thang là loại thang gỗ, chặt từ cây rừng ra, dùng dây mây buộc lại, chiều rộng thang chỉ có một khoảng hẹp, cỡ ba bốn gang tay. Vách đá dựng đứng, nên thang bắc cũng dựng đứng. Tay không, dép lốp mà leo thôi chứ chả có đồ bảo hộ gì, lưng vác khoảng 20 30 cân hành trang. Vượt hết được 3 chặng thang đó là đến “cổng trời”. Cổng trời là một hang động lớn, cửa hang hình vòm. Trên núi thì không có nước, trong hang mát lạnh, chỉ có nước nhỏ tong tong từ trên xuống. Ở Lào đương mùa khô, trèo lên được đến đỉnh khát cháy cả cổ, đứa nào đứa nấy tranh nhau ngửa cổ hớp nước nhỏ từ trên xuống.

Ngoài ra còn thấy cụ nhắc đến hai trạm có tên Cao Bồi Non và Cao Bồi Già, trạm Cao Bồi Già ở trên cao hơn. Cụ thể không còn nhớ rõ.

Vượt qua Trường Sơn, thời tiết thay đổi chóng mặt. Nếu ở Lào đang là mùa khô, thì vừa đặt chân sang Việt Nam là trời mưa tầm tã.

3. Mắc võng trên rừng.

Không phải cứ mắc võng vào hai thân cây rồi căng bạt che là xong. Như vậy mưa rừng xuống thế nào nước cũng rỉ vào dây dù, thấm ướt hết võng. Ngày xưa bộ đội được cấp “tăng võng”. Võng là loại võng bạt, một nửa buộc 2 đầu dây một nửa không, khi nằm gập nửa còn lại vào thành chăn đắp. “Tăng” là loại bạt giăng bên trên võng để tránh mưa.

Chặt cành làm 2 cái cọc chắc chắn, cao cỡ một người. Cắm 2 cọc ở gần 2 cây to đối nhau, cách cây chừng 30 40cm. Buộc dây dù vào cọc rồi căng ra buộc cố định vào thân cây, như thế mắc võng lên 2 cọc, cọc mới không bị nghiêng. Bấy giờ mới giăng bốn góc “tăng” lên cành cây, như thế vừa che được võng vừa che được cọc, nước mưa không thấm ướt dây dù lan ra võng được nữa.

Cá biệt trong lúc chặt cành làm cọc, cụ phạt bớt cành đi nhưng không vót nhẵn, để lại vài mấu cành làm móc treo đồ, treo ba lô và băng đạn. Riêng súng thì bao giờ cũng kè kè bên người. “Súng là vợ, đạn là con” mà lỵ. 

4. Thanh niên trẻ với chút mộng mơ.

Cụ kể, một ngày ngồi canh trên cứ điểm nơi đầu nguồn sông Hương, ngẫm nghĩ nếu cứ xuôi theo dòng chảy êm êm này, vòng vèo một hồi, thế nào cũng về đến Huế. Ngày sau Giải Phóng, người thanh niên ấy đã quay về đầu nguồn sông Hương (không phải nơi cứ điểm cũ vì chỗ đó cách quá xa), chặt tre chặt mây làm thành bè, thả mình trôi trên dòng sông Hương, trôi suốt một ngày một đêm mới về đến Huế.

.

Chiến trường B, 1970 – 1975.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s